2013/09/06

Ngành ngân hàng - Ngân hàng chúng ta “chẳng giống ai”


Sau 1/4 thế kỷ thành lập và phát triển tính từ khi ngân hàng thương mại đầu tiên ra đời (1988), có thể nói hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã đi trọn một chu kỳ phát triển từ sơ khai đến phát triển, cực thịnh rồi thoái trào và trở lại quá trình tái cơ cấu, điều chưa có tiền lệ ở bất cứ đâu trên thế giới.

Gặp lại chuyên gia tài chính ngân hàng Bùi Kiến Thành, chúng tôi đã có những trao đổi thẳng thắn với ông xung quanh trọng tâm này.

Thưa ông, đâu là những đặc điểm nổi bật nhất của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam kể từ giai đoạn đổi mới đến nay?

Từ năm 1988, ngân hàng thương mại đầu tiên được cấp phép, từ đó đến nay có khoảng 49 ngân hàng thương mại cổ phần, hoặc ngân hàng liên doanh với nước ngoài, ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam hoạt động.

Tuy nhiên, theo tôi trên thực tế số lượng ngân hàng thương mại cổ phần của Việt Nam nhiều như vậy nhưng những đơn vị hoạt động, kinh doanh tốt, hoặc tương đối không nhiều. Theo Ngân hàng Nhà nước báo cáo thì 10 ngân hàng dẫn đầu chiếm đến 85% thị phần, còn lại khoảng 15% thị phần chia cho 39 ngân hàng còn lại.

Như vậy sau hơn 20 năm phát triển, với hệ thống ngân hàng như vậy, những ngân hàng nhỏ khó mà vươn lên được. Sau này có một số ngân hàng nhỏ sáp nhập lại cũng có một số sáng kiến mới như SHB - Habubank, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt nhưng cũng chưa thấy có gì gọi là đột phá.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng khoanh vùng 9 ngân hàng lãi suất yếu kém để cấu trúc lại, trong đó có 3 ngân hàng hợp nhất lại, còn lại một số khác ngân hàng nhà nước đang đỡ đầu để tìm cách sáp nhập nhưng cũng chưa có giải pháp.

Như vậy, ta thấy những hoạt động của ngân hàng thương mại cổ phần bao nhiêu năm nay không như chúng ta kỳ vọng.

Tại sao như thế? Có lẽ ngay từ bước đầu thì cái việc cho rằng chúng ta lập ngân hàng không theo một tiêu chuẩn nào thật sự là nghiêm túc, và khi lập ra rồi những cái ngân hàng đó đi huy động vốn trong nhân dân, đẩy lãi suất lên quá cao, gây hại cho nền kinh tế, cho doanh nghiệp nói chung, một số ngân hàng không làm đúng chức năng ngân hàng, mà chỉ được giấy phép của ngân hàng rồi đi huy động vốn trong nhân dân rồi đi phục vụ cho những dự án riêng tư của mình là chính, vì thế có nhiều ngân hàng theo như báo cáo của Ngân hàng Nhà nước đã tự cho những cổ đông của mình, hay cho những người quen biết của mình vay tới 60% - 70% tổng dư nợ. Nhiều ngân hàng có nợ xấu, nợ khó đòi lên tới 40% - 50% - 60%.

Xét về mặt kỹ thuật thuần túy, có thể nói hệ thống ngân hàng Việt Nam chưa đạt được chất lượng của một hệ thống ngân hàng thực sự. Ngoài ra, mục đích làm ngân hàng quá nặng về quyền lợi riêng tư của một nhóm làm ngân hàng nào đấy thay vì là một tổ chức tài chính phục vụ lợi ích của cộng đồng doanh nghiệp.

Nghĩa là hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam “chẳng giống ai”, thưa ông?

Đúng như vậy, hai nét đặc thù nổi bật của ngân hàng thương mại Việt Nam theo tôi là sở hữu chéo và cách thức cho vay.

Về sở hữu chéo, khi chúng ta cho ra mấy chục ngân hàng thì phải có vốn điều lệ tối thiểu (ví như ban đầu là 3.000 tỷ đồng, sau nâng lên 5.000 rồi sẽ là 10.000 tỷ đồng) nhưng các nhà sáng lập không đủ tiền để đóng vốn điều lệ, phải đi huy động nơi này nơi kia, có một số ngân hàng thương mại quốc doanh tham gia vào những ngân hàng thương mại cổ phần.

Ngoài ra, còn có những tập đoàn tư nhân tham gia vào, nhưng số thực sự có tiền nhiều thì lại rất có hạn nên người ta đầu tư chéo rất nhiều.

Ví như 1 ngân hàng A có vốn 500 tỷ thì mua lại cổ phiếu của ngân hàng B, rồi ngân hàng C thì đầu tư vào ngân hàng A, số tiền thực chất chỉ có vậy nhưng chạy lòng vòng hết ngân hàng này sang ngân hàng khác.

Tình trạng sở hữu chéo như vậy làm mỏng và yếu đi thực lực thật của một ngân hàng, hơn thế những thành viên có tham gia sở hữu chéo lại được đưa vào điều lệ và có thể để khống chế cho vay, giải ngân tín dụng...để cho vay những món không đúng với qui định của pháp luật.

Ví như một ngân hàng có thể cho một đơn vị nào đó vay bao nhiều % của vốn điều lệ, nhưng người ta lách luật bằng 5-7 ngân hàng cùng cho một đơn vị vay và đơn vị đó lại lách luật bằng cách lập ra nhiều công ty con trực thuộc của mình.

Như vậy, một nhóm người thậm chí một cá nhân có thể đứng ra vay một ngân hàng rất nhiều tiền, đặt ngân hàng đó vào một thế rất nguy hiểm và dễ trở thành nợ xấu.

Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể nói ngay từ đầu đã không phù hợp. Ở mình ai tới vay cái gì, các ngân hàng đâu có xem xét, giám định các dự án sản xuất kinh doanh của người ta xem có khả thi và phát triển trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn hay không... mà chỉ hỏi có tài sản thế chấp không.

Tài sản thế chấp là thành phần chính của quyết định cho vay, đến khi khách mang tiền về dùng không đúng mục đích, sai mục đích thì ngân hàng cũng không giám định xem số tiền họ cho vay đó đi đâu, theo hướng nào.

Điều nguy hiểm, là không giám định được cái rủi ro của đồng vốn. Vì thế, cái thiếu sót lớn nhất của các ngân hàng Việt Nam là không giúp cho doanh nghiệp xây dựng nên những dự án khả thi và không giúp doanh nghiệp lập lịch trình thu hồi vốn thế nào cho phù hợp với vốn mà mình cho vay: làm ra sản phẩm nào, thị trường ra sao và từng giai đoạn tháng, năm phát triển ra sao.

Ở nước ngoài, người ta không làm như vậy khi cho vay họ yêu cầu khách hàng trình bày lý do vay để làm gì, nếu là vốn lưu động hay vốn trung hạn thì sẽ trả thế nào... Họ cũng phải có lịch sử sử dụng vốn chi như thế nào, thu như thế nào rõ ràng.

Hoặc khi doanh nghiệp có dự án mới, ngân hàng sẽ nghiên cứu sản phẩm ấy có thị trường hay không... vì lỗ hổng này nên việc các ngân hàng thương mại cứ nhắm vào sản phẩm, tài sản thế chấp để cho vay để cắt ngắn khâu giám định dự án.

Nên người ta nói các ngân hàng thương mại đang như những tiệm cầm đồ, cứ mang đồ đạc tài sản đến rồi cho vay cũng không quá.

Nhiều ý kiến nhận định rằng, chỉ trong vòng khoảng 1/4 thế kỷ hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã đi trọn một “vòng đời” mà nền tài chính ngân hàng ở các nước phát triển đã phải trải qua hàng trăm năm từ sơ khai, đến phát triển, cực thịnh rồi thoái trào và nay lại đang phải tái cơ cấu, theo ông trên thế giới đã từng có những tiền lệ nào như vậy?

Thực ra, không có tiền lệ bởi chúng ta xuất phát từ nền kinh tế tập trung không có ngân hàng thương mại, không có doanh nghiệp tư nhân. Từ năm 1985, khi đổi mới thì mới có nền kinh tế nhiều thành phần, mới có doanh nghiệp tư nhân. Mà doanh nghiệp tư nhân muốn hoạt động thì phải có tín dụng ngân hàng, tiếp theo là cho phép các ngân hàng tư nhân ra đời.

Nhưng các ngân hàng ra đời cũng chưa có kinh nghiệm về hoạt động tài trợ tín dụng cho doanh nghiệp, những người được đưa ra làm ngân hàng tư nhân cũng được đưa ra từ những ngân hàng thương mại quốc doanh thôi, chứ cũng chưa có kinh nghiệm phát triển một ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân được.

Soi sang các nước Đông Âu cũng có tiền lệ này nhưng họ đã có sẵn cả lịch sử về phát triển ngân hàng hàng trăm năm của họ rồi. Nên có thể nói Việt Nam là độc nhất vô nhị và rất độc đáo.

Trước đây ở miền Nam có nguyên một nền kinh tế thị trường, phát triển tương đối tốt, nhưng sau 1975, đất nước thống nhất chúng ta đã áp dụng chính sách quốc hữu hóa các doanh nghiệp và cải tạo tư sản...

Sau 1985, một số doanh nghiệp mới được lập nên và đi với đó là những ngân hàng thương mại được thành lập. Nhưng như đã nói những ngân hàng này cũng chưa có kinh nghiệm hoạt động theo cơ chế thị trường.

Như vậy, ngân hàng thương mại Việt Nam hình thành và phát triển không có tiền lệ, và vì không có tiền lệ nên nó cứ phát triển tự phát. Và ngay cả cơ quan quản lý nhà nước cũng không có cách nào để xây dựng nền móng cho một hệ thống ngân hàng thương mại thực sự tốt.

Và vì không có kinh nghiệm nên đã không thực hiện trách nhiệm về quản lý các đơn vị. Trên thực tế, cho đến năm 2007-2008 thì các ngân hàng thương mại còn nằm trong vùng kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, nhưng sau đó từ 2009, 2010, 2011... nó đã bùng phát mà Ngân hàng Nhà nước không có vai trò quản lý như trong qui định của pháp luật.

Từ đó ngân hàng cứ phát triển lên mà vô kiểm soát, vô kỷ luật, nó đẩy lãi suất huy động từ 7-8% lên 17-19% từ đó đã gây ra đại họa cho nền kinh tế, bởi thực tế không doanh nghiệp nào có thể hoạt động hiệu quả với lãi suất đi vay lên tới hơn 20%.

Giai đoạn 2009 -2011 có thể nói các ngân hàng thương mại đã cho các doanh nghiệp “uống thuốc độc” với lãi suất cao như thế, khiến họ chết dần, chết mòn...

Tất nhiên, phía ngân hàng cũng có những lý giải ví như phải có lãi suất dương cho người gửi tiền, lãi suất phải cao hơn lạm phát... nhưng đây là những lý thuyết không phù hợp và thiếu tích cực, thiếu sự năng động của một người quản lý nhà nước tức là tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững chứ không phải chạy theo cách làm việc của một số ngân hàng thương mại hoạt động không có qui củ...

Hai năm trở lại đây, Ngân hàng Nhà nước tuyên bố đẩy mạnh cải tổ, tái cơ cấu sắp xếp lại hệ thống ngân hàng thương mại, theo ông lộ trình này còn có những điểm gì hợp lý và bất hợp lý?

Cho đến nay tôi chưa thấy có cái gì được cả, hiện các ngân hàng thương mại của chúng ta vẫn đang ở trong tình trạng bế tắc, những đơn vị lớn gọi là 10 ngân hàng hàng đầu, thậm chí cả trong top 3 vẫn ảnh hưởng bởi suy thoái rất nhiều, thậm chí bị nạn như ACB, Sacombank, những đơn vị khác thì bị nạn khác như đầu tư chéo vào các ngân hàng nhỏ và các ngân hàng nhỏ này đã lôi kéo các ngân hàng lớn vào vũng lầy nợ xấu do những món vay không đủ tiêu chuẩn, không đúng qui định.

Hiện nay, thực tế chúng ta vẫn chưa biết nợ xấu là bao nhiêu (chỉ riêng bất động sản là 350 ngàn tỷ đồng) mà chừng nào chưa giải quyết được món nợ xấu thì không chỉ các ngân hàng nhỏ mà các ngân hàng lớn cũng bị ảnh hưởng và suy yếu đi nhiều, bởi vốn điều lệ của tất cả các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cũng không lớn bằng số nợ xấu đó.

Từ góc độ vĩ mô mà nhìn vào, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện hoạt động mà không còn vốn điều lệ nữa, không đáp ứng được vấn đề gì về an toàn cho cả hệ thống.

Việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra công ty mua bán nợ Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) với nguồn vốn 500 tỷ đồng và quyền phát hành tín phiếu để mua các món nợ xấu, nợ khó đòi theo tôi không giải quyết được vấn đề gì cả.

Vì nói mua, nhưng có mua hết 350 ngàn tỷ đồng không? Và khi mua thì làm gì với món nợ khổng lồ này, liệu đã có giải pháp hay chưa? Thực sự chưa thấy lối ra cho những nợ xấu, nợ khó đòi ở Việt Nam, mà đây không chỉ là lỗi của mỗi một Ngân hàng Nhà nước...

Hay như việc tái cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại, theo tôi phải đi ngay vào việc xử lý dứt điểm những đơn vị yếu kém. Như đã nói, Ngân hàng Nhà nước đã khoanh vùng 9 ngân hàng yếu kém để cấu trúc lại, trong đó có 3 ngân hàng hợp nhất lại còn lại một số khác ngân hàng nhà nước đang đỡ đầu để tìm cách sát nhập nhưng cũng chưa có giải pháp.

Đáng lý, những ngân hàng đó đáng lý phải giải quyết xong vào cuối năm 2012, nhưng bây giờ đến gần cuối 2013 rồi cũng chưa làm xong.

Ngoài ra, chúng ta lại có một chính sách sẽ không để một ngân hàng nào phá sản cả, đó là một chủ trương chính sách có phù hợp hay không đối với vấn đề muốn làm sạch hệ thống ngân hàng?

THÀNH TÂM - VnEconomy

Du lịch Việt Nam tăng trưởng cao nhưng giá trị vẫn thấp

Tăng trưởng doanh thu của du lịch Việt Nam năm vừa qua chỉ là 17,62%, đã tuột dốc thê thảm so với hai năm trước đó là năm 2011 (26,29%) và năm 2010 (45,9%). Song nhìn chung, tăng trưởng du lịch Việt Nam vừa qua có nét khởi sắc hơn so với Thái Lan, Malaysia và Singapore (chỉ đạt mức tăng trưởng doanh thu năm 2012 lần lượt là 13,6%, 1,04% và 7,33%). Điều đó cho thấy những chiều hướng tích cực trong việc đầu tư và phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, về số tuyệt đối, theo báo cáo của tổng cục Du lịch Việt Nam (dựa trên con số thống kê của ngân hàng Thế giới) đưa ra tại hội thảo “Định vị thương hiệu du lịch Việt Nam” ngày hôm qua (22.8), lượt khách và doanh thu của du lịch Việt Nam năm vừa qua (năm 2012) thấp hơn nhiều lần so với ba nước trong khu vực là Thái Lan, Malaysia và Singapore.

Cụ thể, về lượt khách, Việt Nam đạt 6.847.678 lượt, thấp hơn ba lần so với Thái Lan, gần 3,7 lần so với Malaysia và gần 1,6 lần so với Singapore. Về doanh thu, du lịch Việt Nam đạt 6,610 tỉ USD; trong khi Thái Lan là 30,926 tỉ USD; Malaysia là 19,797 tỉ USD; và Singapore là 19,380 tỉ USD.
Nói về sự khiêm tốn của các chỉ số của Việt Nam so với bạn bè trong khu vực, ông Lê Anh Tuấn, vụ trưởng vụ Thị trường – tổng cục Du lịch, thừa nhận: “Du lịch Việt Nam hiện nay đang ở mức thấp hơn so với nhiều nước trong khu vực. Điều này phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề như xây dựng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, quảng bá xúc tiến...”

Trước sự “lép vế” của du lịch Việt Nam so với nhiều nước Đông Nam Á, tổng cục Du lịch đã đặt vấn đề thương hiệu du lịch lên hàng đầu với mục tiêu tìm ra những hướng đi đột phá, thúc đẩy một cách mạnh mẽ sự phát triển của du lịch Việt Nam. Tại hội thảo “Định vị thương hiệu du lịch Việt Nam”, ông Nguyễn Văn Tuấn – tổng cục trưởng tổng cục Du lịch, đã khẳng định: “Việc xây dựng và phát triển thương hiệu thực sự được chú trọng như sứ mệnh và mục tiêu phát triển của du lịch Việt Nam”. Cũng tại hội thảo này, thương hiệu du lịch Việt Nam cũng được định hướng trọng tâm vào quảng bá, phát triển các giá trị ẩm thực Việt Nam đến với thế giới.


MINH TUẤN - SGTT

2013/09/05

2013-09-05 - Giờ giao dịch





Chốt sổ:
Thị trường có phiên tăng mạnh khá bất ngờ. Tuy nhiên, quan điểm của tôi thị trường sẽ còn tiêu cực khi áp lực bán gặp phải vào phiên mai sẽ được cộng hưởng cả cắt lỗ và chốt lời hàng giá rẻ (bắt đáy) và ngay tại khu vực kháng cự VnIndex 480.

2013/09/04

Bài học về cổ phiếu mới niêm yết


Bạn thân mến, 

Đầu tư chứng khoán là hấp dẫn. Nhưng bạn vẫn cần tỉnh táo trong rất nhiều trường hợp. Một vài trường hợp tiêu biểu sau đây, có đặc điểm chung là mới niêm yết. 

Theo những tiêu chí an toàn tiêu chuẩn chưa phải cao thì mỗi cổ phiếu cần phải có lịch sử hoạt động đủ lâu và thời gian niêm yết đủ lâu để có thể đánh giá phần nào tình hình tài chính - tài năng lãnh đạo - vị thế doanh nghiệp cũng như chất lượng và thương hiệu sản phẩm dịch vụ... Nói chung là cái giá của doanh nghiệp là có cơ sở tin cậy. Đồng thời, có cơ sở nhất định để tin tưởng được vào khả năng hoạt động trong tương lai.

Tuy nhiên rất nhiều trường hợp cổ phiếu mới niêm yết thì ngay sau đó giá đã tăng rất mạnh nhưng sau quá trình đó giảm còn mạnh hơn. Và có thể dễ dàng hình dung ai lợi - ai thiệt hại ở đây... Tôi không dám nói rằng đó là thao túng giá, nhưng rõ ràng đây là những điều rất bất bình thường. Và bạn hoàn toàn có thể phòng tránh được... Chỉ đơn giản bạn cần nói với chính mình "tôi không quan tâm cổ phiếu mới lên sàn dưới 3 năm", hoặc thậm chí là 5 năm

Mong rằng bạn không bao giờ phải trở thành diễn viên mới trong những bộ phim cũ như những hình ảnh mà tôi sẽ post dưới đây.

1. HAR - Thảo Điền 

2. DHM - Khoáng sản Dương Hiếu

3. LCM - Khoáng sản Lào Cai

4. DVD - Dược Viễn Đông

5. Tiếp tục cập nhật...

2013-09-04 - Giờ giao dịch






Chốt sổ.
- VnIndex rằng co phiên thứ 2 liên tiếp sau nỗ lực hồi phục từ 460 và có vẻ đã thấm mệt trước áp lực bán khá mạnh. Giảm dần cuối phiên và đóng cửa gần mức thấp... với khối lượng tăng. Đây là tín hiệu kỹ thuật xấu.
- Phiên hôm nay cũng chứng kiến khá nhiều cổ phiếu giảm giá dưới mức hỗ trợ mạnh như SSI, HAG CSM BMC ngoài ra các CP đã xác nhận giảm khác như: BVH GMD NTL VND...

Thị trường giảm rộng và áp lực khá lớn là tín hiệu còn tiếp tục diễn biến xấu... Tuy nhiên, mức VnIndex 460 đang ở rất gần và cần được kiểm chứng.
Về kỹ thuật, giao dịch ngắn hạn nếu còn hàng nên xem xét bán ra nếu VnIndex không đứng vững trước 460, mục tiêu hướng tới là 440.

Chúc bạn thành công.
Nguyễn Dũng (Fibiz)
-----------------------------------
Vui lòng add nick skype: nn.dzung để tham gia nhóm đầu tư thành công vững bền.
Tư vấn miễn phí - nếu chúng ta hợp thì mời bạn về giao dịch ủng hộ, CTCK top 10 - dịch vụ tốt, phí thấp.

9 nguyên tắc đầu tư lừng lẫy về đầu tư của Warrent Buffett

Warren Buffett, nhà tiên tri xứ Omaha, đã trở thành một trong những người giàu nhất thế giới chỉ nhờ tuân thủ những nguyên tắc đơn giản, nhưng rất quan trọng này.

Nguyên tắc 1: Hãy sống tiết kiệm
Khi nền kinh tế rời vào suy thoái và buộc bạn phải sống tiết kiệm thì hãy nhìn vào mặt tích cực của nó: bạn có thể đang giống với Warren Buffet. Warren Buffett vẫn đang sống trong ngôi nhà khiêm tốn tại Omaha Omaha, bang Nebraska (Hoa Kỳ) được ông mua cách đây hơn 50 năm.

Tại sao sống tiết kiệm có thể giúp Buffet trở thành nhà đầu tư vĩ đại?
- Thứ nhất, điều này giúp ông có nhiều tiền hơn để đầu tư.
- Thứ hai, một người tiết kiệm thì cũng sẽ yêu cầu lối sống tiết kiệm đến các cấp quản lý. Đối với Buffet, việc trả lương quá mức là báo động đỏ.
- Thứ ba, người tiết kiệm thì không cần mức sinh lời nhanh để chu cấp cho lối sống xa hoa. Điều này giúp cho họ suy nghĩ cẩn thận hơn khi mua bán chứng khoán, giúp họ trở thành nhà đầu tư hiệu quả.

Nguyên tắc 2: Chờ đợi “miếng mồi ngon”
Hãy kiên nhẫn chờ đợi một thời gian cho đến khi sự hỗn loạn của thị trường đem đến những “miếng mồi ngon” hoặc là định giá cổ phiếu của những công ty tiềm năng trở nên rất rẻ.

Nguyên tắc 3: Hãy là người đi ngược xu hướng
Một trong những cách tốt nhất để tìm kiếm lợi nhuận là đi ngược lại đám đông. Trong lá thư thường niên gửi cổ đông vào năm 1986, Buffett đã viết: “Chúng tôi đơn giản là chỉ cố gắng sợ hãi khi người khác tham lam và chỉ tham lam khi người khác sợ hãi”.
Điều này không có nghĩa là đám đông luôn luôn sai lầm, mà vì hành động của đám đông thường đã được phản ánh vào giá. Vì vậy, khi đám đông đang cực kỳ bi quan thì thường là thời điểm để mua chứng khoán; còn khi phần lớn đang tự tin thì hãy cẩn trọng.

Nguyên tắc 4: Đầu tư vào những gì bạn hiểu
Một trong những nguyên tắc cơ bản của Buffett là: Nếu bạn không hiểu về sản phẩm của công ty hay cách mà công ty kiếm tiền thì hãy tránh xa nó. Điều này là không hề dễ dàng. 
Trong cơn sốt dotcom cuối những năm 1990, Buffet đã không đầu tư vào các công ty công nghệ, vì ông cho rằng ông không hiểu những công ty này. Ông trở thành nhà đầu tư rất khôn ngoan khi sau đó, bong bóng công nghệ sụp đổ.

Nguyên tắc 5: Đừng phụ thuộc vào người khác về quyết định đầu tư
Nếu bạn cần người khác nói rằng bạn đang đầu tư đúng hướng thì không thể trở thành nhà đầu tư như Buffett. Buffett đã thu được lợi nhuận vượt trội vì mua cổ phiếu mà người khác không thích, và không được các chuyên gia nói tới.

Nguyên tắc 6: Mua công ty rẻ
Đây là triết lý của nhà đầu tư theo trường phái đầu tư giá trị. Đầu tiên, Buffett ước tính “giá trị nội tại” (intrinsic value) của doanh nghiệp. Sau đó, xác định một “ngưỡng an toàn” (margin of safety) để mua chứng khoán.

Nguyên tắc 7: Lựa chọn công ty có lợi thế cạnh tranh bền vững (economic moats)
Nói cách khác, công ty phải sở hữu rào cản gia nhập, và khiến đối thủ không thể gia nhập vào ngành kinh doanh một cách dễ dàng. Đây có thể là sở hữu bản quyền điều chế dược phẩm, ưu thế về thương hiệu…

Ví dụ, đối với BNSF Railway, rất khó để các công ty vận tải khác có thể xây dựng đủ hệ thống đường sắt ở Bắc Mỹ để cạnh tranh trong lĩnh vận vận chuyển đường sắt. 
Hay Coca-Cola, một khoản đầu tư dài hạn của Buffett, có ưu thế về nhãn hiệu và hệ thống phân phối trên toàn cầu.

Nguyên tắc 8: Mua cổ phiếu yêu thích với số lượng lớn/tập trung
Nhiều quỹ đầu tư tối thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa danh mục. Tuy vậy, Buffett lại dường như đi ngược lại đám đông khi cố gắng tìm những công ty ưa thích và mua vào với lượng lớn. Buffett cho rằng ông có thể hạn chế rủi ro bằng việc hiểu biết về công ty nhiều hơn thị trường, và sau đó là kiên nhẫn để chờ đợi mua vào với giá hợp lý.

Nguyên tắc 9: Nắm giữ suốt đời
Buffett thường nói rằng thời gian nắm giữ mà ông yêu thích là “mãi mãi”. Ẩn chứa trong lời nói bông đùa này là 2 hàm ý: 
(1) Một công ty chỉ xứng đáng để đầu tư khi nó có thể vượt trội trong nhiều thập kỷ sau đó. 
(2) Bạn phải tự mình quyết định khoản đầu tư của mình và tránh chạy theo đám đông.


Tuy vậy, điều này không có nghĩa là bạn mua cổ phiếu rồi quên nó đi. Buffett theo dõi các khoản đầu tư rất sát sao và thoát ra khi ông nghĩ rằng giá cổ phiếu đã đạt đến mức giá trị nội tại, hay khi phát hiện có vấn đề. Buffett đã bán cổ phiếu Fannie Mae và Freddie Mac, các công ty cho vay mua nhà thế chấp, trước khi cổ phiếu các công ty này “nổ tung” theo sau cuộc khủng hoảng 2008 – 2009.

Cho vay tín dụng ưu đãi cổ đông nội bộ


Nếu bạn là cổ đông nội bộ, cổ đông lớn các công ty đại chúng đang niêm yết, có nhu cầu vay vốn - thế chấp bằng cổ phiếu. Bạn sẽ được hưởng nhiều ưu đãi đặc biệt về hạn mức vay - lãi suất - thời hạn vay.
Vui lòng liên hệ để chúng tôi trình bày rõ hơn và có thể dành ưu đãi này cho bạn.

----------
Nguyễn Dũng (Fibiz) - Tư vấn, đào tạo, quản lý danh mục đầu tư ủy thác
Email: dzung.ssvn@gmail.com 
Skype: nn.dzung - nhóm đầu tư thắng lợi vững bền.

Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán


Kính gửi: Quý nhà đầu tư

Đầu tư chứng khoán là một trong những kênh tạo thu nhập và tài sản tốt nhất đã từng được biết đến. 
Bạn không cần phải khởi nghiệp kinh doanh với những hiểu biết sâu sắc, với rủi ro lớn về tài chính, khó khăn về tổ chức thực hiện... Với đa số chúng ta, khởi nghiệp kinh doanh là không đơn giản. 

Bạn cũng không cần phải đau đầu với khách hàng - với nhân viên - cơ quan thuế hay những khó khăn phức tạp cạnh tranh trên thương trường... Nhưng với đầu tư chứng khoán, bạn thực sự là một người làm kinh doanh - nhưng đơn giản hơn và hiệu quả hơn. Đó là chân lý - không phải do tôi sáng tạo ra. 

Ngoài ra, điều tuyệt vời là khi bạn đầu tư chứng khoán, quyền lựa chọn hệ thống kinh doanh tốt thuộc về bạn. Lợi nhuận là rất lớn nếu bạn làm đúng và đủ kiên nhẫn. Bạn không cần phải điều hành ai, quản lý hàng tồn kho hay tất bật với doanh thu - công nợ... Tất cả những điều đó đã có người khác làm và lợi nhuận thuộc về bạn - vậy có thể xem là người ta đang làm việc cho bạn? 

Bạn hãy đọc qua một vài lần về các phương châm đầu tư của các nhà đầu tư vĩ đại được cả thế giới biết đến và tôn vinh. Những cái tên này có thể là: Benjamin Graham, Warren Buffett, Peter Lynch, John Templeton, Bernstein... để thấy rằng những lời khuyên của họ có lý và đúng đắn như thế nào. Và tôi nghĩ rằng, đó sẽ là những triết lý - phương châm nền tảng mà bạn nên làm - phải làm nếu muốn thành công vững bền trên thị trường chứng khoán. 

Tất nhiên, sẽ có những vấn đề cần phải giải quyết, thậm chí là khó khăn. Nhưng như những quy luật thông thường, với chứng khoán, nếu đơn giản mà thành công thì người giàu từ chứng khoán hẳn đã rất nhiều - ý tôi là những người được gọi là nhà đầu tư nhưng không suy nghĩ và làm việc như nhà đầu tư. 

Nếu bạn đã tìm hiểu và thấy tâm huyết với đầu tư chứng khoán (tôi rất hy vọng bạn nghĩ như vậy), nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu - phải làm như thế nào để bảo toàn và phát triển vốn, tôi rất sẵn lòng được là người tư vấn chuyên nghiệp và tận tâm cho bạn. Với một mức phí mà bạn có thể cảm thấy cao nhưng rẻ hơn rất nhiều so với việc bạn tự đầu tư và bị thị trường lôi cuốn - với vẻ hấp dẫn sexy vốn có nhưng bạn sẽ rất khó khăn để nhận biết đã sai lầm ở đâu - như thế nào, và đương nhiên, do đó mà không thể sửa chữa được. 

Và với chứng khoán, nếu bạn không thua thì bạn sẽ giàu. Nhưng nếu bạn thua, chỉ một hai lần nếu nghiêm trọng, bạn sẽ bị loại... Đây là điều rất - rất nguy hiểm mà cũng rất - rất đơn giản mà rất ít người lưu ý. 

Trong trường hợp bạn cần một giải pháp khác, để bạn có thể có được thu nhập mà không phải làm gì thêm. Bạn có thể tin tưởng và ủy thác cho tôi quản lý và đầu tư tài khoản của bạn. Bạn hoàn toàn yên tâm về việc tiền vốn của bạn được sử dụng như thế nào vì chỉ có bạn mới quyết định và làm được điều đó. Nhưng với sự tư vấn sâu sát về lập danh mục - tỷ lệ danh mục đầu tư - thời điểm cơ cấu danh mục... để đạt được mục tiêu an toàn và gia tăng hiệu quả tối đa đúng lúc. Tôi tin là tôi có thể làm rất tốt cho bạn.

Chúc bạn thành công và tôi đang chờ bạn. 
Trân trọng, 

Fib - Trồng cây gây rừng, đầu tư bền vững.
Môi giới - Tư vấn - Đầu tư ủy thác
_______________________________________________________
Nguyễn Nam Dũng (Mr.) || Cty Chứng khoán VPBank - www.vpbs.com.vn
Hotline: 090.679.1228 || Skype: nn.dzung
Chúng tôi trên Facebook: www.facebook.com/fib.vn hoặc www.facebook.com/groups/ssvn.vn

Những nhà đầu tư giá trị - những lời khuyên

Bạn đang chuẩn bị đầu tư chứng khoán? Bạn chưa có nhiều kinh nghiệm và đang muốn học hỏi ở những nhà đầu tư đi trước? Chắc hẳn những lời khuyên của các nhà đầu tư nổi tiếng tại phố Wall sẽ rất có ích cho bạn.

Thị trường chứng khoán đã có lịch sử hàng trăm năm. Tại đây nhiều nhà đầu tư từ hai bàn tay trắng đã trở thành những “huyền thoại”, được cả thế giới kính nể. Giới đầu tư ở Wall Street họ kính trọng ai? Những tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất là Buffett, Bogle, Bernstein, Templeton, Brinson, LeBaron, và Neff, bởi Buffett là nhà đầu tư huyền thoại, Boogle là người thành lập và cổ xuý không mệt mỏi cho Quỹ đầu tư theo chỉ số đầu tiên trên thế giới, Sir John Templeton, người tiên phong thành công nhất trong đầu tư quốc tế và các vị khác nêu trên cũng là những nhà đầu tư, quản lý hay học giả xuất sắc... Tất cả đều nhận được Giải thưởng chuyên môn xuất sắc của Hiệp hội Nghiên cứu và đầu tư AIMR Hoa Kỳ. Lần đầu tiên những “cây đại thụ” này đã ngồi cùng nhau quanh một hội thảo do AIMR tổ chức để chia sẻ hơn... 300 tuổi kinh nghiệm tập thể.

Câu hỏi được đặt ra là “Xin hãy nêu một, hai kinh nghiệm dù xấu hay tốt đã đem lại cho quý vị trong vai trò nhà đầu tư những bài học quý giá nhất?

Templeton: Với tôi nó khởi đầu từ những tháng ngày “cày” cật lực tại Đại học Yale khi tự khám phá ra mình có thể kiếm được tiền từ việc chơi bài khá hơn từ những việc làm khác. Tôi chơi bài với các cậu quý tử con nhà giàu, mà chủ yếu chúng chơi để mua vui trong khi mình chơi để thắng. Tôi lắng nghe và học xem gia đình họ đang đầu tư cái gì và không ai trong số họ đầu tư ngoài biên giới một quốc gia. Điều đó xem như không có tầm nhìn dài hạn. Từ đó, khi đang học năm thứ hai tôi quyết định sẽ dồn tâm huyết trở thành nhà tư vấn cho những ai đầu tư khắp thế giới.

Buffett: Những bài học quý giá nhất tôi học từ Ben Graham khi đọc cuốn The Intelligent Investor lúc 19 tuổi. Ngay từ năm 7 tuổi, tôi đã thích chứng khoán. Tôi đã tự tính những chỉ số trung bình, đã đọc hầu hết mọi cuốn sách về đầu tư trong thư viện. Điều đó thật là thích thú nhưng cũng chưa đi tới đâu cả. Tôi đã nghiệm ra 3 ý tưởng trong cuốn sách của Ben và đã trở thành hòn đá tảng cho mọi thứ tôi đã làm. Đó là:
(1)   xem chứng khoán như một phần của doanh nghiệp hơn là một thứ tài sản bình thường có giá lên xuống mỗi ngày.
(2)   Tiếp theo, tôi khắc cốt ghi xương một điều có ý nghĩa sống còn là phải có một quan điểm đúng về sự dao động thường xuyên của thị trường.
(3)   Biên độ an toàn về giá khi mua cổ phiếu.

Neff: Khoản đầu tư kém nhất mà tôi thực hiện là vào Công ty U.S Industries. Nó là một tổ hợp công nghiệp lớn, giá thấp, hoạt động phân tán trên 8 đến 10 ngành công nghiệp khác nhau, nhưng lại chưa bao giờ thực sự chiếm vị trí áp đảo trong những ngành đó. Cuối cùng tôi đã lỗ đến 50%. Từ đó tôi luôn để mắt tìm kiếm những công ty chiếm vị trí áp đảo trong từng ngành.

Bernstein: Năm 1958, lợi suất của cổ phiếu thấp hơn cả lợi suất trái phiếu, điều chưa từng xảy ra trước đây. Lúc đó có hai người bạn đứng tuổi đã từng nếm trải đại khủng hoảng năm 1930 đoán chắc rằng, đây là một sự bất thường mà chỉ trong một thời gian ngắn thị trường sẽ phải tự điều chỉnh. Nghĩa là lợi suất từ cổ phiếu luôn luôn phải cao hơn lợi suất trái phiếu.

Phải mất một thời gian chúng tôi mới nghiệm ra rằng, nếu cuộc đại khủng hoảng không xảy ra thì nhất định phải có tình trạng tăng trưởng. Quả thật, từ 1958 từ “tăng trưởng” bắt đầu đi vào từ điển và mọi người lấy lại niềm tin vào chứng khoán. Đó thật là thời khắc tuyệt vời và nó dạy tôi rằng, mọi việc đều có thể xảy ra. Bánh luôn có sẵn trên bàn chờ người biết cách chộp lấy.

Hãy cho một lời khuyên quan trọng nhất, giả sử như quý vị đang tư vấn cho một chuyên viên đầu tư độ 25 hay 30 tuổi làm thế nào để thành công trong nghề nghiệp?

Templeton: Tôi có lời khuyên là hãy khiêm tốn. Có một đầu óc cởi mở và đừng bao giờ tự kiêu.

Neff: Lời khuyên của tôi là phát triển một triết lý đầu tư thật hiệu quả và gắn chặt với nó.

Buffett: Hãy thực tế khi xác định đâu là lĩnh vực mình thông thạo. Cố gắng định ra cái gì ta có thể hiểu biết đến nơi đến chốn, dừng lại ở đó, quên hết mọi thứ khác đi. Ý tôi là phải quyết định ngành nào bạn đủ hiểu biết để đánh giá và ngành nào bạn không biết đủ để lượng định. Các bạn không thể chờ đợi ai đó suy nghĩ giùm mình. Bạn phải thực sự hiểu rõ những doanh nghiệp mình đã mua qua việc sở hữu các cổ phiếu. Ngoài ra, đừng quên là bất cứ cái gì nhân zero cũng thành zero. Dù bạn có thắng nhiều nhưng nếu vay mượn quá mức hoặc làm điều gì đó mà khả năng thắng cuộc là zero thì sẽ mất tất cả.

Bogle: Đầu tiên, thừa nhận trên thực tế có số ít nhà đầu tư có thể đánh bại thị trường trong dài hạn. Thứ hai, xem mình như đại diện của khách hàng, không phải là người bán hàng thuần tuý. Thứ ba, chú trọng đầu tư dài hạn, không phải đầu cơ ngắn hạn – thà tập trung vào giá trị nội tại của một công ty thực vẫn hơn tìm kiếm “giờ tốt” của giá cổ phiếu. Nếu các bạn làm đúng 3 điều trên thì sẽ có cơ hội nổi lên giữa những người thắng cuộc. 

Brinson: Lời khuyên tốt nhất tôi có thể trao bất cứ ai là phát triển kỹ năng cần thiết, ứng dụng trong công việc, mài giũa nó và đừng hùa theo đám đông.

Lebaron: Những nhà đầu tư giỏi nhất đầu tư theo suy nghĩ riêng của họ. Bạn sẽ khám phá ra rằng, cách đầu tư của họ là phù hợp chặt chẽ với tính cách, tri thức và phong cách làm việc riêng. Nó không thể là kiểu đầu tư của người khác, nó của chính họ và bắt rễ sâu trong họ.

Lời khuyên nào với các nhà đầu tư chứng khoán mới vào nghề?

Doug Richard: Có một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh chứng khoán là đừng bao giờ "bỏ tất cả trứng vào một rổ". Tuy vậy, việc đầu tư dàn trải vào quá nhiều danh mục đầu tư cũng có thể không mang lại hiệu quả mong đợi. Người đầu tư vừa mất sức lực lại vừa không kiểm soát được đối tượng đầu tư của mình. Theo tôi, nhà đầu tư nên tìm hiểu nhiều loại chứng khoán nhưng chỉ nên đầu tư vào một số loại chứng khoán mà họ tin tưởng nhất.

"Tôi đã đầu tư vào hàng nghìn công ty khác nhau trên thị trường chứng khoán. Thành công không bao giờ đến từ những điều thần kỳ hay sự nỗ lực ít ỏi. Luôn có một công thức hướng tới lợi nhuận. Điều quan trọng là bạn cần biết nhìn vào đâu trước mỗi quyết định đầu tư”. Đó là nhận định của Doug Richard, một trong những nhà đầu tư chứng khoán hàng đầu trên thế giới.

”Hoạt động kinh doanh đều do con người thực hiện. Do vậy, việc nắm bắt tình hình nhân sự của công ty mà bạn dự định đầu tư là rất cần thiết”, Doug nói. Theo ông, việc tìm hiểu tình hình nhân sự không phải là công việc quá khó khăn. Không ai có tất cả những kỹ năng, kinh nghiệm và danh tiếng để điều hành các hoạt động kinh doanh, điều quan trọng chính là ở chỗ họ có nhiệt huyết với công việc hay không. 

Tôi luôn bắt đầu phân tích một công ty phát hành bằng Bản cáo bạch của công ty. Trong quá trình thực hiện, tôi tự đặt ra cho mình một số mục đích quan trọng như tìm hiểu xem việc kinh doanh của công ty có tiến triển hay không, lợi nhuận trung bình như thế nào, nợ nần ra sao,... “Doanh thu tăng có nghĩa là lợi nhuận cũng tăng và dẫn tới giá cổ phiếu tăng. Nhưng các con số chưa phải là nói lên tất cả. Do vậy, sẽ rất cần thiết khi nghiên cứu Bản cáo bạch một cách kỹ lưỡng để tìm ra những dấu hiệu tăng trưởng của công ty”

Nếu công ty mà bạn dự định đầu tư không có những kế hoạch kinh doanh tốt thì triển vọng lợi nhuận của cổ phiếu gần như bằng không. Bạn đừng mắc phải sai lầm này, kinh doanh là một cuộc chiến. Để kiếm lời từ cổ phiếu bạn cần hiểu cổ phiếu đó đang làm những gì và có kế hoạch như thế nào”, Doug nói.

-------------

Tạp chí BBC đã có một cuộc phỏng vấn ngắn với Doug Richard về công việc đầu tư chứng khoán của ông: 

BBC: Giới đầu tư chứng khoán đồn rằng, khi bắt đầu, mới "chơi" cổ phiếu có hơn 5 tháng mà ông lãi cả triệu bảng Anh?

Doug Richard: Tôi không tranh cãi chuyện thiên hạ đồn đại về mình, bạn bè vẫn quen gọi tôi là "trùm cổ phiếu". Điều mà tôi cảm thấy yên tâm và hài lòng sau một thời gian tham gia đầu tư cổ phiếu là đã chọn đúng nhà môi giới. Tôi cho rằng, từ cơ sở hạ tầng đến đội ngũ nhân viên môi giới của Công ty môi giới Nicleway, nơi tôi đang mở tài khoản là đáng tin cậy. 

BBC: Cơ sở nào tạo cho ông sự tin cậy này?

Doug Richard: Theo đánh giá của tôi, ở Nicleway khả năng của nhà môi giới là vượt trội. Điều này thể hiện qua cách trả lời chính xác, dễ hiểu, mức độ tinh thông nghiệp vụ, tính trung thực, tinh thần phục vụ và tính bảo mật khách hàng của đội ngũ nhân viên làm việc ở đây. Nhờ vậy, khả năng truyền thông giữa các nhân viên môi giới tại sàn của công ty chứng khoán và tại Sở Giao dịch chứng khoán thường rất nhanh chóng, chính xác. Ngoài ra, Nicleway còn có những dịch vụ hỗ trợ khác như có thể cho khách hàng thế chấp chứng khoán ở ngân hàng mẹ để vay tiền mua chứng khoán hoặc để làm việc khác...

BBC: Có phải ông gián tiếp cho rằng trong đầu tư chứng khoán thì điều đầu tiên cần quan tâm là việc chọn công ty chứng khoán?

Doug Richard: Điều này đã từng được các chuyên gia về chứng khoán khuyến cáo. Thực tế trong thời gian qua lời khuyên này là hoàn toàn chính xác. Có thể thấy, trong điều kiện đặt lệnh giao dịch qua nhân viên môi giới tại các công ty chứng khoán như hiện nay, khả năng xử lý lệnh nhanh nhạy của nhân viên môi giới là hết sức quan trọng, bởi vì nếu bạn đặt lệnh cùng với giá của người khác mà nhân viên môi giới lại nhập lệnh chậm hơn đối thủ cạnh tranh thì bạn đã mất quyền ưu tiên và khả năng lệnh của bạn được thực hiện rõ ràng nhỏ hơn người kia. 

BBC: Việc chọn đúng nhà môi giới là một lợi thế nhưng để mua hoặc bán được cổ phiếu ở mức giá vừa ý lại do nhà đầu tư quyết định. Với kinh nghiệm của mình, ông có thể "bật mí" một vài bí quyết?

Doug Richard: Phương pháp mà tôi sử dụng để xây dựng "danh mục đầu tư” của mình là dựa vào những nhận định của bản thân. Nhận định này được tính theo mức lợi tức kỳ vọng cho mỗi giả định đầu tư của mình và so sánh chúng với nhau để tìm ra danh mục tối ưu về mặt số lượng và chủng loại chứng khoán (tức là danh mục có kỳ vọng cao nhất).

Tôi cho rằng, phương pháp tính lợi tức kỳ vọng này phụ thuộc chủ yếu vào đánh giá chủ quan của mỗi nhà đầu tư dựa trên các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp hàng tháng, hàng tuần, thậm chí hàng ngày. Việc đánh giá xác suất và tỷ lệ lợi nhuận được chia tuy cùng dựa trên cơ sở thực tế là bản cáo bạch, báo cáo về việc phân chia cổ tức, thông tin đại chúng, thông tin không chính thức mà nhà kinh doanh thu thập được nhưng người nào có nhiều thông tin chính xác và có khả năng dự đoán tốt hơn sẽ có nhiều cơ hội thành công. Điều này đòi hỏi người tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán phải luôn động não, cần khả năng tư duy, thậm chí đòi hỏi họ cả ý chí và bản lĩnh.

BBC: Nhà đầu tư có nên một lúc đầu tư vào nhiều loại cổ phiếu?

Doug Richard: Có một nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh chứng khoán là đừng bao giờ "bỏ tất cả trứng vào một rổ". Tuy vậy, việc đầu tư dàn trải vào quá nhiều danh mục đầu tư cũng có thể không mang lại hiệu quả mong đợi. Người đầu tư vừa mất sức lực lại vừa không kiểm soát được đối tượng đầu tư của mình. Theo tôi, nhà đầu tư nên tìm hiểu nhiều loại chứng khoán nhưng chỉ nên đầu tư vào một số loại chứng khoán mà họ tin tưởng nhất. 

BBC: Lời khuyên nào với các nhà đầu tư chứng khoán mới vào nghề?

Doug Richard: Trong mua bán chứng khoán, điều quan trọng là nhà đầu tư phải biết tự bảo vệ mình và đưa ra những phương pháp đầu tư phù hợp nhất với từng loại chứng khoán.. Một số biện pháp an toàn cơ bản mà các chuyên gia chứng khoán đã khuyến cáo có thể được tham khảo như hãy cảnh giác với những tin đồn, những người bán đang gây sức ép buộc mình phải hành động tức thời hoặc những sự bảo đảm hay lời hứa về lợi nhuận nhanh chóng; phải chắc chắn hiểu rõ về sự mạo hiểm, rủi ro phát sinh trong mua bán chứng khoán. Ngoài ra cũng cần hiểu bản chất của thị trường chứng khoán là luôn biến động, điều quan trọng mà các nhà đầu tư nên nhớ là thành công trước đây không phải là sự bảo đảm cho thành công trong tương lai đối với một phi vụ đầu tư. 

BBC: Xin cảm ơn ông! 
(Sưu tầm)

2013/09/02

10 lời khuyên vàng của tỷ phú Buffett về đầu tư

Là tỷ phú giàu thứ tư thế giới và nổi tiếng với nhãn quan đầu tư được tin là vĩ đại nhất trong thế kỷ qua, Warren Buffett đã đưa ra 10 lời khuyên "vàng" cho các nhà đầu tư.

1. “Việc mua một công ty tuyệt vời với mức giá vừa phải còn tốt hơn nhiều là mua một công ty vừa phải với mức giá tuyệt vời” - Trích thư Buffett gửi các cổ đông năm 1989.

Đây là một trong những câu nói nổi tiếng nhất của Buffett, và nó cho thấy một triết lý cơ bản trong chiến lược đầu tư của ông đó là: Ông có thể gắn bó với các công ty mình hiểu rõ, và những công ty có giá trị thực chất rõ ràng, bất kể tình hình tài chính hiện tại ra sao.

2. “Nguyên tắc số 1: Đừng bao giờ để mất tiền; nguyên tắc thứ 2: đừng quên nguyên tắc số 1”.

3. “Cách tiếp cận của chúng tôi là thu lợi từ sự ít biến động thay vì từ những biến động. Với kẹo cao su Wrigley, chính sự ít biến động đã hấp dẫn tôi. Tôi không nghĩ nó sẽ bị tổn thương bởi Internet. Đó chính là loại doanh nghiệp mà tôi thích” - Trích Businessweek (1999).

Chỉ cần nhìn vào danh mục đầu tư của Berkshire Hathaway có thể thấy phần nào lời khuyên này. Các công ty Buffett đầu tư đều đã hoạt động lâu năm và có hoạt động kinh doanh rất dễ hiểu: Dairy Queen bán kem, GEICO bán bảo hiểm…

Mối liên hệ của Buffett với GEICO bắt đầu từ năm 1952, khi ông phát hiện ra một trong những thần tượng đầu tư của mình, Benjamin Graham, là thành viên hội đồng quản trị công ty. Trong nỗ lực tìm gặp Graham, Buffett đã có cơ hội gặp phó chủ tịch GEICO khi đó là Lorimer Davidson, người trở thành bạn lâu năm của ông sau này.


Ở tuổi 83, ông vẫn đưa ra những hướng đầu tư vô cùng sáng suốt

4. “Tôi cố mua cổ phiếu tại các doanh nghiệp tuyệt vời đến mức ngay cả một tên ngốc cũng có thể điều hành. Bởi dù sớm hay muộn cũng sẽ có ai khác làm điều đó”.

5. “Thị trường chứng khoán không phải một trò chơi của sự nghe theo người ngoài. Bạn không cần phải chao đảo theo mọi thứ. Bạn có thể đợi trên phần sân của mình. Vấn đề khi bạn là nhà quản lý quỹ đó là những cổ động viên xung quanh không ngừng hét lên “chạy đi, tên lười!” - Trích “Triết lý của Warren Buffett” (2006)

6. “Giá là những gì bạn phải trả, giá trị là những gì bạn nhận được. Cho dù chúng ta nói về một đôi tất hay cổ phiếu, tôi thích mua những mặt hàng chất lượng khi giá của nó hạ” - Trích thư gửi cổ đông năm 2008.

7. “Đừng bao giờ tính đến việc bán được giá. Hãy tìm mức giá mua hấp dẫn đến độ ngay cả việc bán với giá xoàng cũng đem lại lợi nhuận tốt” - Trích “Buffett: Sự thành danh của một nhà tư bản Mỹ” (1995)

8. “Nếu bạn hiểu một doanh nghiệp hoàn hảo và tương lai của doanh nghiệp đó, bạn rất ít phải quan tâm tới biên độ an toàn” - Trích đại hội cổ đông thường niên Berkshire Hathaway 1997.

Doanh nghiệp càng dễ tổn thương, với giả định bạn vẫn muốn đầu tư, biên độ an toàn bạn cần sẽ càng lớn hơn. Nếu bạn lái một chiếc xe tải qua một cây cầu có trọng tải 10 tấn, nhưng xe đã nặng 9,8 tấn, nếu cây cầu chỉ cao hơn mặt đường 15 cm, bạn có thể vẫn thấy ổn. Nhưng nếu cây cầu bắc qua một vực sâu, rõ ràng bạn muốn có biên độ an toàn lớn hơn.

9. “Chúng ta từ lâu đã cảm thấy rằng giá trị duy nhất của những nhà dự báo giá cổ phiếu là khiến những tên thầy bói trông có vẻ giỏi hơn. Ngay cả bây giờ , Charlie Munger (phó chủ tịch Berkshire Hathaway) và tôi tiếp tục tin rằng những dự báo ngắn hạn về thị trường giống như thuốc độc, và nên bị khóa chặt trong một nơi an toàn, tránh xa khỏi trẻ em và những người đã trưởng thành nhưng cư xử trên thị trường như trẻ con” - Trích Thư gửi cổ đông năm 1992

10. “Chúng tôi không được trả tiền để hoạt động năng nổ, mà chỉ để hành động đúng đắn. Về việc chúng tôi sẽ đợi bao lâu, chúng tôi sẽ đợi vô thời hạn” - Trích Đại hội cổ đông thường niên Berkshire Hathaway năm 1998.

Theo CNBC

BILL MILLER




Bill Miller là nhà quản lý của quỹ Legg Mason Value Trust (LMVTX). Dưới sự điều hành của ông, quỹ này đã lập kỷ lục là một trong những quĩ đạt chuỗi các năm đầu tư thành công dài nhất trong lịch sử các quỹ tương hỗ. Từ 1991 đến 2005, tổng lợi nhuận của quỹ đã 15 năm liên tiếp vượt qua chỉ số S&P 500.Quy mô quỹ của Miller đã phát triển từ 750 triệu USD năm 1990 lên tới 20 tỷ USD năm 2006!

Tiểu sử cá nhân:
Miller tốt nghiệp bằng kinh tế học ở đại học Washington & Lee năm 1972. Ông làm việc cho J. E. Baker Co. và trở thành thủ quỹ của công ty này. Ông gia nhập Legg Mason năm 1981 và hiện đang là chủ tịch kiêm tổng giám đốc đầu tư của công ty quản lý quỹ Legg Mason Capital Management. Ngoài ra, Miller còn là chủ tịch ban quản trị của Học viện Santa Fe, một trung tâm hàng đầu dành cho các nghiên cứu về lý thuyết các hệ thống phức hợp.

Phong cách đầu tư:
Tháng 11 năm 2006, phó tổng biên tập tạp chí Fortune, Andy Serwer, đã mô tả phong cách đầu tư của Bill Miller là “báng bổ thánh thần”: “đơn giản là bạn không thể nào làm cái mà ông ta đã làm trong việc đầu tư cổ phiếu rất chọn lọc và cực kỳ hiệu quả. Sự thật là Miller đã bỏ ra hàng thập kỷ để nghiên cứu cách suy nghĩ độc lập so với những người xuất chúng và trong quá trình đó, chính ông ta cũng trở thành một trong số họ.”

Bill Miller là một nhà đầu tư theo giá trị tự bộc lộ của cổ phiếu, nhưng định nghĩa của ông về khoản đầu tư giá trị tương đối khó hiểu đối với các nhà đầu tư theo giá trị thông thường. Miller tin rằng, bất cứ cổ phiếu nào cũng có thể là một cổ phiếu giá trị nếu nó được bán với giá thấp hơn giá trị nội tại của mình.

Các nhà đầu tư cá nhân có thể học hỏi từ việc ứng dụng nguyên lý đầu tư này của Miller, mà như ông nói là cơ sở cho kỷ lục 15 năm liên tiếp quỹ Legg Mason Value Trust vượt qua kêt quả đầu tư bình quân trên thị trường.

Giải thích cho thành công này, ông chỉ ra hai yếu tố: các phân tích chứng khoán thật kỹ lưỡng, thấu đáo và kỹ thuật xây dựng danh mục đầu tư. Năm 2006, trong thông cáo quí IV gửi các cổ đông của Quỹ, Bill Miller đã đưa ra giải thích về hai yếu tố này:

Đầu tư giá trị nghĩa là phải tự đặt câu hỏi: đâu là những cổ phiếu giá trị nhất?
Không được ngộ nhận rằng những gì trông có vẻ đắt đỏ nhất là những thứ có giá trị nhất, hay vì cổ phiếu này được bán hạ giá tới vài lần mà ta cho rằng đó là một món hời. Đôi khi tăng trưởng được trả giá rẻ trong khi giá trị lại được trả giá cao…
Câu hỏi không phải là tăng trưởng hay giá trị, mà phải là cổ phiếu nào đáng giá nhất. Chúng tôi xây dựng danh mục đầu tư bằng cách sử dụng “đa dạng hóa các yếu tố”… Chúng tôi sở hữu một tập hợp các công ty mà các yếu tố nền tảng hình thành nên giá trị của nó là khác nhau. Chúng tôi có những cổ phiếu với P/E cao và những cổ phiếu với P/E thấp, những cổ phiếu có giá trị sổ sách cao và những cổ phiếu giá trị sổ sách thấp. Hầu hết các nhà đầu tư có xu hướng không đa dạng hóa đối với những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị cổ phiếu này, khi các nhà đầu tư giá trị có xu hướng chọn các yếu tố định giá thấp trong khi các nhà đầu tư tăng trưởng chọn các yếu tố định giá cao. Vào thời điểm giữa thập niên 1990 chúng tôi đã bắt đầu xây dựng danh mục đầu tư với sự đa dạng hóa nhân tố cao nhất, thứ trở thành sức mạnh của chúng tôi…

Chúng tôi có thể nắm giữ những cổ phiếu có P/E thấp hoặc P/E cao, nhưng với cùng một nguyên nhân: chúng tôi tin rằng những cổ phiếu này đều đã bị định giá quá thấp. Chúng tôi khác với những nhà đầu tư giá trị khác trong việc sẵn ang phân tích các cổ phiếu trông có vẻ đắt giá để xem liệu chúng có đắt thật không. Trên thực tế, hầu hết chúng là đắt thật sự nhưng có một số thì không. Trong chừng mực mà chúng tôi đúng, chúng ta sẽ làm lợi cho các cổ đông và đối tác.

Tác phẩm:
“The Man Who Beats The S&P: Investing With Bill Miller”  của Janet Lowe (2002)

Trích dẫn một số câu nói của ông:
- “Tôi thường nhắc nhở các chuyên gia phân tích rằng 100% thông tin anh có về một công ty phản ánh quá khứ, trong khi đó 100% việc định giá cổ phiếu lại phụ thuộc vào tương lai.”

- “Như các ngài giáo sư vẫn nói với chúng ta, thị trường phản ánh những thông tin hiện có. Nhưng cũng giống như những tấm gương méo trong nhà cười không phải lúc nào cũng phản chiếu đúng hình ảnh của chúng ta, thị trường không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác các thông tin. Thường thì chúng ta luôn quá bi quan khi tình hình tồi tệ và quá lạc quan khi tình hình tốt.”

- “Cái chúng ta cố gắng làm là tận dụng sai lầm của người khác, bởi vì hoặc họ là những nhà đầu tư cực kỳ ngắn hạn, hoặc họ đã phản ứng trước những sự kiện bất lợi nào đó, hoặc họ đã phóng đại ảnh hưởng của các sự kiện…”

(Sưu tầm)


Peter Lynch với nhà đầu tư cá nhân



Được mệnh danh là nhà quản lý tiền số một trên thế giới, Peter Lynch đã phát triển Quỹ Magellan Fund từ 20 triệu đô la năm 1977 lên đến mức 14 tỉ đô la năm 1990. Trong 13 năm đó, ông không thua lỗ năm nào, và thắng chỉ số S&P 500 Index 11 năm trong số 13 năm.

Ông có những lời khuyên đối với nhà đầu tư cá nhân, để thành công, nhà đầu tư cần phải hỏi bản thân mình những câu hỏi sau:

- Mục tiêu đầu tư của bạn là gì? Nếu không có mục tiêu rõ ràng thì rất khó thành công.
- Bạn sẽ đầu tư trong khoảng thời gian ngắn hay dài? Hãy nghĩ đến thời gian dài.
- Bạn sẽ phản ứng như thế nào nếu giá cổ phiếu mình đang đầu tư xuống đột ngột? Hãy bỏ qua những chu kỳ lên xuống giá bất thường.
- Bạn đã có căn nhà của mình chưa? Hãy là chủ một căn nhà trước khi bỏ tiền vào đầu tư.

Theo Peter Lynch, nhà đầu tư cá nhân không phải lúc nào cũng thua nhà đầu tư tổ chức. Nhà đầu tư cá nhân có thể hành động nhanh, và có thể nghiên cứu thông qua những quan sát, trải nghiệm hàng ngày của mình với sản phẩm của các công ty niêm yết trong tư cách là người tiêu dùng đối với sản phẩm. Nhờ đó, nhà đầu tư cá nhân có thể mua những cổ phiếu khá tốt mà nhà đầu tư tổ chức không quan tâm.

Cách lấy thông tin
1. Khai thác nhà môi giới. Nhà đầu tư phải sử dụng hết những dịch vụ mà nhà môi giới có trách nhiệm phải cung cấp. Luôn luôn hỏi nhà môi giới những số liệu trong quá khứ, tiềm năng phát triển, và số liệu nào để hỗ trợ cho sự tư vấn, đề xuất của nhà môi giới.

2. Cách thứ hai là gọi thẳng cho phòng quan hệ với nhà đầu tư của công ty (Investor Relations). Theo ông, nhà đầu tư nên khôn ngoan trong câu hỏi của mình. Đừng bao giờ hỏi: tại sao giá cổ phiếu của công ty đi xuống, sẽ nhận câu trả lời “có trời mới biết”. Không hỏi “công ty sẽ lãi trong năm nay bao nhiêu” mà hỏi rằng “thị trường dự đoán mức lợi nhuận của công ty trong năm nay sẽ là bao nhiêu?”.

3. Cách thứ ba là nghiên cứu báo cáo thường niên.
Con số đầu tiên Lynch khuyên nhà đầu tư nên xem xét là tiền mặt và những gì tương đương tiền mặt sau khi đã trừ đi nợ dài hạn. Lấy số tiền mặt trừ nợ này chia cho tổng số cổ phiếu. Thương số này sẽ là mức chặn cuối cùng của thị giá. Thị giá không thể nào thấp hơn mức này. Như vậy nếu có cổ phiếu nào thấp hơn số này là nhà đầu tư nên mua ngay lập tức.

Con số thứ hai nên xem xét là tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Cao quá thì sẽ ảnh hưởng đến sự lành mạnh và phát triển của công ty, nhưng thấp quá cũng không tốt, công ty không tận dụng được hiệu quả đòn bẩy của nợ. Theo ông, tùy ngành, nhưng tỷ lệ nợ trên vốn nên ở quanh mức 25%.

Hãy tìm cổ phiếu tốt từ sáu loại công ty
Quan trọng nhất trong đầu tư, theo ông, chúng ta phải tìm được cổ phiếu của các công ty kinh doanh thành công, hay chính xác hơn là những cổ phiếu có giá trị. Khi đã chọn được những cổ phiếu đó, việc lên xuống thị giá của các cổ phiếu đó không còn quan trọng. Và ông rất giỏi khi tìm kiếm những “ten bagger” - những cổ phiếu có khả năng tăng trưởng giá trị lên 10 lần (hay 1.000%). Peter Lynch chia các công ty ra làm sáu loại như sau:

Loại 1. Slow Grower: Đây là những công ty lớn, ổn định đã trải qua những giai đoạn của chu kỳ phát triển. Các công ty này hiện tại chỉ tăng trưởng với tốc độ nhỉnh hơn một chút so với tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế.

Loại 2. Stalwarts: Những công ty đã ổn định này năng động hơn các công ty Slow Grower một chút, nhưng vẫn thuộc loại công ty tăng trưởng chậm.

Loại 3. Fast Growers: Đây là những công ty đang tăng trưởng mạnh mẽ, có khi đến 20-25%/năm.


Loại 4. Cyclicals: Đó là những công ty mà kết quả kinh doanh cũng như thị giá cổ phiếu lên và xuống theo chu kỳ.

Loại 5.  Asset Plays: Đây là những công ty có những tài sản với trị giá cao mà thị trường không nhận biết. Peter Lynch cho rằng không phải lúc nào Wall Street cũng định giá chính xác.

Loại 6. Turnarounds: Đây là những công ty có khả năng xoay chuyển tình thế. Cứ mỗi khi đối diện với khó khăn, những công ty này có đủ tài lực để thay đổi tình hình qua hướng sáng sủa hơn.

Trong 6 loại trên, Peter Lynch ưu tiên chọn nhóm công ty Fast Growers, Asset Plays, Turnarounds vào danh mục đầu tư của mình. Tuy vậy ông cảnh báo rằng, sự phân loại các công ty có tính cách tương đối theo thời gian. Do đó cứ vài tháng một lần, phải kiểm tra và phân loại lại.

Công ty càng đơn giản càng tốt
Cũng gần giống với Warren Buffett, Peter Lynch chỉ thích đầu tư vào những công ty mà ông nắm rõ sự vận hành. Ông thích những công ty đơn giản và có ưu thế cạnh tranh cao: ưu thế là ưu thế về thương hiệu, hay những thế mạnh về sản xuất, chất lượng sản phẩm. Với ưu thế cạnh tranh cao, công ty sẽ tránh khỏi rủi ro khi thay đổi quản lý.

Điều quan trọng nhất để đầu tư vào một công ty là tài sản và khả năng tạo ra lợi nhuận của nó. Trước khi đầu tư vào cổ phiếu của bất kỳ công ty nào, Peter Lynch khuyên chúng ta hãy tự hỏi và tự đối thoại với bản thân mình trong hai phút: cái gì tạo ra giá trị cho công ty này, và công ty có thể thành công không?

Ngoài những nguyên tắc cơ bản như giá trị tài sản, doanh số bán hàng, tỷ số tiềm năng của lợi nhuận trên thị giá, khả năng thanh khoản, Peter Lynch còn quan sát một số dấu hiệu khác để tìm ra những cổ phiếu tốt: người trong công ty có mua cổ phiếu đó không? Công ty có đang mua lại cổ phiếu của mình không?

Peter Lynch khuyên chúng ta tránh đầu tư vào những cổ phiếu sau
- Cổ phiếu được “đồn” sẽ là sao sáng. Đây sẽ là một Intel, một Microsoft tương lai… Những ngôi sao sáng như vậy rất hiếm. Và nếu ai cũng biết nó là sao sáng thì nó khó có khả năng trở thành sao sáng vì lúc đó giá đã được đưa lên cao rồi.

- Công ty mua công ty khác để đa dạng hóa. Peter Lynch không tin là những phi vụ mua bán lớn sẽ tạo ra sức mạnh hợp quần, và thường thì các công ty không quản lý hiệu quả nhiều chức năng phát sinh đột ngột của mình. Ông khuyên nhà đầu tư đừng nên đưa tiền vào những phi vụ mua bán “dở hơi” như vậy.

- Những công ty trung gian – không phải là nhà sản xuất, dịch vụ hay trực tiếp phân phối sản phẩm  và phụ thuộc vào một vài khách hàng chính. Khi một hai khách hàng không tiếp tục hợp tác thì tình hình kinh doanh của công ty sẽ trở nên rất tệ.


- Những công ty có tên quá đẹp, quá hấp dẫn thị trường. Peter Lynch khuyên chúng ta tìm kiếm những cổ phiếu có tên bình thường, thậm chí xấu, những cổ phiếu có giá trị mà không bị để ý. 

Kinh tế biển Việt Nam nhìn từ vận tải biển


Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đã xác định:  mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 kinh tế trên biển và ven biển đóng góp 53-55% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của cả nước. Sau năm 2020 kinh tế hàng hải phải đạt vị trí hàng đầu trong năm ngành kinh tế biển. Trước mắt tập trung đầu tư phát triển du lịch biển; xây dựng cảng biển; phát triển công nghiệp đóng tàu; xây dựng đội tàu mạnh; phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển...


Để góp phần thực hiện mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, ngày 15/10/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1601/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030. Quyết định nêu rõ: Nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải biển, đáp ứng nhu cầu vận tải biển nội địa, nâng cao thị phần vận chuyển hàng hóa XNK đạt 27-30%. Phát triển đội tàu biển Việt Nam theo hướng hiện đại, chú trọng phát triển các loại tàu chuyên dùng và tàu có trọng tải lớn. Đến năm 2020, tổng trọng tải đội tàu đạt 11,5 - 13,5 triệu DWT. Từng bước trẻ hóa đội tàu biển Việt Nam, đến năm 2020 đạt độ tuổi bình quân 12 năm...

Theo số liệu thống kê của Cục Đăng kiểm Việt Nam, tại thời điểm 30/11/2011, Việt Nam có 867 chủ tàu quản lý khai thác 1.633 tàu treo cờ Việt Nam với tổng trọng tải 7,4 triệu DWT, trong đó 57 chủ tàu lớn (có tổng dung tích đội tàu trên 14.000 GT) quản lý khai thác 493 tàu với tổng trọng tải 5,3 triệu DWT và 810 chủ tàu nhỏ (có tổng dung tích đội tàu dưới 14.000 GT) quản lý khai thác 1.140 tàu với tổng trọng tải 2,1 triệu DWT*. Đó là chưa kể 65 tàu treo cờ nước ngoài với tổng trọng tải 1,3 triệu DWT do các doanh nghiệp Việt Nam mua và quản lý khai thác.

Từ số liệu trên cho thấy vận tải biển Việt Nam đã phát triển với tốc độ rất nhanh trong hơn 4 năm qua cả về số lượng tàu, trọng tải tàu và cả về các doanh nghiệp quản lý khai thác vận tải biển, đồng thời cũng cho ta thấy sự quá manh mún và phân tán của vận tải biển Việt Nam. Sự phát triển quá nóng và phân tán này đã và đang làm cho vận tải biển Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức.

Trước hết, đó là sự dư thừa trọng tải tàu đối với các tàu có trọng tải nhỏ chở hàng khô rời kể cả các tàu chở container trong khi lại thiếu các loại tàu chuyên dùng và tàu có trọng tải lớn. Trong tổng số 1.633 tàu thì có tới 1.013 tàu với tổng trọng tải gần 3 triệu DWT chuyên chạy tuyến nội địa, đại bộ phận là tàu chở hàng khô rời có trọng tải dưới 5.000 DWT. Có 38 tàu chở container nhưng chỉ có 2 tàu có sức chở trên 1.000 TEU, số còn lại chỉ có sức chở dưới 1.000 TEU.

Trước đây, các tàu container gom hàng từ các cảng Việt Nam đến các cảng chuyển tải (Hongkong, Singapore) cho các hãng tàu mẹ. Khi Việt Nam có cảng nước sâu, các tàu mẹ vào cảng Việt Nam nhận hàng trực tiếp, các tàu container hoặc chỉ có thể vận tải nội địa hoặc cho nước ngoài thuê định hạn với giá thấp (vì nhu cầu cỡ tàu này không nhiều).

Các tàu chở hàng khô rời trọng tải nhỏ vận tải nội địa giá cước thấp, nguồn hàng không ổn định, giá nhiên liệu cao, các chi phí duy tu bảo dưỡng tàu cao...  nên hầu hết các chủ tàu đều bị thua lỗ nặng. Nhiều chủ tàu không có tiền để trả nợ vốn vay nên bị ngân hàng bắt giữ tàu để siết nợ. Đại diện một hiệp hội chủ tàu cấp tỉnh có khoảng 50 hội viên đã nói hầu hết hội viên của họ đã “chết lâm sàng”. Phá sản không còn là nguy cơ mà là thực tế các chủ tàu Việt Nam đang phải đối mặt.

620 tàu với gần 4,5 triệu DWT chạy tuyến quốc tế chủ yếu là tàu chở hàng khô rời hầu hết cho nước ngoài thuê định hạn hoặc chở thuê cho nước ngoài bởi trên 80% hàng xuất khẩu của Việt Nam được bán theo điều kiện FOB cảng Việt Nam (giao hàng tại cảng Việt Nam) và 80% hàng nhập khẩu của Việt Nam được mua theo điều kiện CF/CIF**.

Thách thức lớn thứ hai đối với các chủ tàu Việt Nam đó là tình trạng khát vốn nghiêm trọng. Kinh doanh vận tải biển đòi hỏi phải có vốn lưu động khá lớn. Trên 80% vốn phát triển đội tàu trong thời gian qua là vốn vay của các ngân hàng thương mại bằng ngoại tệ nay đến kỳ trả nợ thì lãi suất tăng, tỷ giá USD tăng so với VND, trong khi khai thác tàu vẫn trong tình trạng không có lãi thậm chí lỗ vì thị trường cước phí được cải thiện không đáng kể so với năm 2008, giá nhiên liệu vẫn ở mức cao... Việc tiếp cận với nguồn vốn vay mới không hề dễ dàng... Nhiều chủ tàu đã và đang phải bán bớt tàu để có tiền trả nợ và có vốn hoạt động kinh doanh, mặc dù giá bán tàu hiện nay thấp hơn nhiều so với giá tàu khi mua 2-3 năm trước đây...

Thách thức lớn thứ ba các chủ tàu Việt Nam đang phải đối mặt đó là tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực có năng lực thực sự và có tâm huyết với Ngành, với nghề, kể cả nguồn nhân lực làm công tác quản lý khai thác tàu trong các doanh nghiệp và cả sỹ quan thuyền viên làm việc trên tàu. Nhiều sỹ quan, thuyền viên được đào tạo chính quy trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp... nhưng chỉ được đào tạo lý thuyết chưa qua thực hành. Một số sỹ quan, thuyền viên có tay nghề cao, có kinh nghiệm nhưng không tâm huyết với nghề. Nhiều giám đốc doanh nghiệp vận tải biển không được đào tạo chuyên ngành, không biết ngoại ngữ. Với gần 100 tàu treo cờ Việt Nam bị PSC lưu giữ ở các cảng nước ngoài trong năm 2011 vì nhiều khiếm khuyết rất đơn giản là minh chứng rất cụ thể cho khẳng định trên.

Một thách thức không nhỏ nữa mà các chủ tàu Việt Nam đang phải đối mặt đó là hàng loạt các công ước quốc tế về hàng hải đã và sẽ có hiệu lực trong tương lai gần như các Phụ lục 3/4/5/6 Công ước MARPOL 73/78; Công ước kiểm soát hệ thống sơn chống hà độc hại 2001 (AFS 2001); Công ước kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước dằn ballast của tàu năm 2004 (BWM 2004); Công ước Lao động hàng hải 2006 (MLC 2006)... Điều này đòi hỏi các chủ tàu phải tăng cường duy tu bảo dưỡng tàu, đầu tư trang thiết bị bổ sung nhằm đáp ứng các yêu cầu của các công ước, dù Việt Nam tham gia hay chưa tham gia các công ước này bởi: tàu của bất kỳ quốc gia nào khi vào cảng của quốc gia đã phê chuẩn công ước đều phải tuân thủ đầy đủ các quy định của công ước.

Từ thực tế trên, chúng tôi kiến nghị một số giải pháp để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển và quy hoạch phát triển vận tải biển Việt Nam mà Ban chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ đã phê duyệt như sau:
1- Đề nghị Chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam nguồn vốn với lãi suất ưu đãi để có thể vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay và từng bước tiếp tục phát triển đội tàu theo quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt. Trong bối cảnh Chính phủ đang chủ trương cắt giảm đầu tư công, kiến nghị này có vẻ không khả thi nhưng không thể không kiến nghị bởi vì hầu hết các chủ tàu Việt Nam đang cực kỳ khó khăn về tài chính, trong khi đó theo các chuyên gia kinh tế hàng hải, thị trường cước phí vận tải biển năm 2012/2013 không có gì sáng sủa hơn so với 2011, thậm chí thị trường tàu chở hàng khô rời còn ảm đạm hơn so với năm 2011.

2- Đề nghị Chính phủ có cơ chế chính sách khuyến khích chủ hàng XNK Việt Nam dùng tàu Việt Nam thông  qua hình thức liên kết kinh tế để cả chủ hàng và chủ tàu đều có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện Việt Nam mở cửa hội nhập nền kinh tế khu vực và quốc tế.

3- Đề nghị Chính phủ hỗ trợ các trường đào tạo thuyền viên nguồn vốn để mua hoặc đóng mới trong nước tàu huấn luyện và mua trang thiết bị mô phỏng phục vụ cho công tác đào tạo nhằm nâng cao khả năng thực hành của thuyền viên.

4- Đề nghị Bộ GTVT sớm ban hành quy chế thẩm định trước khi cấp phép cho tàu nước ngoài vận tải tuyến nội địa. Chỉ cấp phép cho tàu nước ngoài vận tải tuyến nội địa trong trường hợp thật sự cần thiết.

5- Đề nghị các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam từng bước tái cơ cấu đội tàu theo hướng chú trọng phát triển các loại tàu chuyên dùng và các tàu chở hàng xô, tàu chở dầu có trọng tải lớn phù hợp với nhu cầu vận chuyển hàng hóa XNK của Việt Nam.

* Cục ĐKVN, Tổng hợp số liệu về phương tiện giao thông trong cả nước số 11/2011.
** Số liệu công bố của Bộ Công Thương trong hội thảo tại Hà Nội năm 2011.
ĐỖ XUÂN QUỲNH  - Tổng thư ký Hiệp hội Chủ tàu VN